PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO


 
 QUY CHẾ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
 
(Ban hành kèm theo Quyết định số  602/QĐ-ĐHBD ban hành
 
ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Hiệu trưởng)
 

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
 
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định về đào tạo liên thông đại học, cao đẳng hệ chính quy và  không chính quy, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.
 2. Quy chế  này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học, từ trung cấp lên đại học hệ chính quy và vừa làm vừa học của Trường Đại học Bình Dương.
 
Điều 2. Chương trình đào tạo, đề cương chi tiết học phần
1. Chương trình đào tạo được Hiệu trưởng phê duyệt của mỗi ngành học gồm các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Chương trình đào tạo thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình.  Tích lũy đủ các học phần của chương trình đào tạo và các yêu cầu về chuẩn đầu ra khác sinh viên sẽ được xét cấp bằng tốt nghiệp.
2. Mỗi học phần trong chương trình đào tạo có đề cương chi tiết. Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần.
3. Khối lượng của mỗi chương trình được thể hiện trong chương trình đào tạo do hiệu trưởng Đại học Bình Dương phê duyệt cho từng hệ, ngành đào tạo.
 
Điều 3. Học phần và Tín chỉ
            1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 5 tín chỉ (trừ  học phần Khóa luận tốt nghiệp), nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần được gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định.
2. Các loại học phần:
2.1 Theo yêu cầu tích lũy kiến thức, có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.    
·      Học phần tiên quyết là học phần bắt buộc sinh viên phải tích lũy được trước khi đăng ký học phần khác có liên quan.
·      Học phần  tương đương và học phần  thay thế
Học phần  tương đương là một hay một nhóm học phần  thuộc chương trình đào tạo của một khóa, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường (hoặc trường khác có ký kết công nhận chương trình đào tạo với nhà Trường) được phép tích lũy để thay cho một học phần  hay một nhóm học phần  trong chương trình đào tạo của ngành đào tạo.
Học phần  thay thế được sử dụng thay thế cho một học phần  có trong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa.
·      Học phần điều kiện: là những học phần mà kết quả thi không dùng để tính điểm trung bình học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy nhưng sinh viên phải hoàn tất để đủ điều kiện tốt nghiệp; các học phần điều kiện bao gồm: Giáo dục Quốc phòng, Giáo dục thể chất.
Các học phần hay nhóm học phần tương đương hoặc thay thế do khoa quản lý chuyên môn đề xuất và là các phần bổ sung cho chương trình đào tạo trong quá trình thực hiện. Học phần tương đương hoặc thay thế được áp dụng cho tất cả các khóa, các ngành hoặc chỉ được áp dụng hạn chế cho một số khóa, ngành.
2.2. Theo tính chất của học phần, có 3 loại học phần:
- Học phần lý thuyết: Là học phần giảng viên và sinh viên làm việc trên lớp, bao gồm thuyết trình, chữa bài tập, thảo luận, làm việc theo nhóm dưới sự hướng dẫn của giảng viên.
- Học phần thực hành: Là học phần sinh viên làm thực hành, thí nghiệm, khảo sát thực địa, làm việc trong phòng thí nghiệm, thực tập dã ngoại...
- Học phần kết hợp lý thuyết và thực hành: Là học phần có một phần giảng lý thuyết của giảng viên; một phần sinh viên làm thực hành, thí nghiệm, khảo sát thực địa, làm việc trong phòng thí nghiệm, ...
3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 giờ thực tập tại cơ sở; 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
            Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
            4. Hiệu trưởng quy định việc tính số giờ giảng dạy của giảng viên cho các học phần trên cơ sở số giờ giảng dạy trên lớp, số giờ thực hành, thực tập, số giờ chuẩn bị khối lượng tự học cho sinh viên, đánh giá kết quả tự học của sinh viên và số giờ tiếp xúc sinh viên ngoài giờ lên lớp.
 
Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy
Thời gian hoạt động giảng dạy của trường được tính từ 7 giờ đến 21 giờ hằng ngày.
Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của trường, trưởng phòng đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.
 
Điều 5. Đánh giá kết quả học tập
 Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đã học trong học kỳ đó (gồm học kỳ chính và học kỳ phụ mở trong học kỳ chính đó), với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.
 
 
 
 
Chương II
 
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
 
Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo
   
            1. Trường Đại học Bình Dương tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.
            a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Thời gian của một khoá học, được quy định tuỳ thuộc vào trình độ, ngành đào tạo.
 Thời gian thực hiện các chương trình đào tạo của Trường Đại học Bình Dương được qui định như sau:
Liên thông từ
 
Trình độ đào tạo
 
Thời gian đào tạo
 
(năm)
 
Thời gian học tập tối đa
 
(năm)
 Liên thông từ trung cấp lên đại học
3
6
 Liên thông cao đẳng lên đại học
2
4
 
Quá thời gian học tập tối đa tại bảng trên sinh viên sẽ bị xoá tên khỏi danh sách.
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện hành không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.
b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có 15 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, trường tổ chức thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt. Mỗi học kỳ phụ có 6 tuần thực học và 1 tuần thi.
2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng quyết định phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.
 
Điều 7. Đăng ký nhập học
1. Khi đăng ký nhập học tại trường, sinh viên phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ hiện hành. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do phòng Đào tạo của trường quản lý.
2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường và cấp cho sinh viên:
- Thẻ sinh viên;
- Thời khóa biểu dự kiến;
- Kim chỉ nam;
- Những điều cần biết đối với sinh viên;
3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện hành.
4. Sinh viên nhập học được trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.
 
Điều 8.  Công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập
Trên cơ sở đề nghị của Trưởng phòng đào tạo, Hiệu trưởng căn cứ vào chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, văn bằng, kết quả học tập đã có của người học để quyết định công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập và khối lượng kiến thức được miễn trừ khi học chương trình đào tạo liên thông đối với từng người học và công bố công khai trước khi tổ chức đào tạo.
 
            Điều 9.  Đánh giá học phần
            1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.
          Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do giảng viên đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.
            2. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành.
            3. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần.
 
            Điều 10. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
            Cuối mỗi học kỳ, trường tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi phụ. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần không đạt ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính. Trong kỳ thi phụ sinh viên không được giải quyết vắng thi với bất kỳ lý do nào.
 
            Điều 11. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần
            1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng.
            2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.
            3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.
            4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.
            Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi và làm thành ba bản. Một bản lưu tại Trung tâm Khảo thí, một bản gửi về văn phòng khoa và một bản gửi về phòng đào tạo của trường, chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.
            5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này khi được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có).
            6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được trưởng khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó, điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp thi không đạt trong kỳ thi phụ những sinh viên này sẽ phải học lại ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ.
Điều 12.  Cách tính điểm kiểm tra, điểm thi, điểm trung bình chung và xếp loại kết quả học tập
1.      Đối với sinh viên học theo học chế niên chế:
i.                    Điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến phần nguyên. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:      
                                               
            Trong đó:
A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy
            ai  là điểm của học phần thứ i
            ni  là số tín chỉ của học phần thứ i
            n  là tổng số học phần.
 
ii.                 Các điểm trung bình chung học tập để xét thôi học, ngừng tiến độ học, được học tiếp, để xét tốt nghiệp và điểm trung bình chung các học phần tính từ đầu khóa học được tính theo điểm cao nhất trong các lần thi.
 
iii.               Kết quả đánh giá các học phần Giáo dục quốc phòng, Giáo dục thể chất và kết quả thi tốt nghiệp các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh không tính vào điểm trung bình chung học tập của học kỳ, năm học hay khóa học mà thay bằng cấp chứng chỉ.
 
iv.               Xếp loại kết quả học tập:
 
a) Loại đạt:
Từ 9 đến 10:Xuất sắc
Từ 8 đến cận 9: Giỏi
Từ 7 đến cận 8: Khá
Từ 6 đến cận 7: Trung bình khá
Từ 5 đến cận 6: Trung bình
b) Loại không đạt:
Từ 4 đến cận 5:Yếu
Dưới 4: Kém
 
2.      Đối với sinh viên học theo học chế tín chỉ:
i.                    Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân. Mỗi học phần có tối thiểu 2 điểm đánh giá quá trình và 1 điểm thi cuối học phần. Điểm học phần có thể bao gồm các điểm thành phần sau:
-         Điểm kiểm tra giữa kỳ;
-         Điểm đánh giá quá trình, mức độ tham gia hoạt động giảng dạy học tập;
-         Điểm thực hành của từng bài/ phần thí nghiệm, hay thi thí nghiệm;
-         Điểm bài tập lớn, tiểu luận;
-         Điểm thi cuối kỳ;
-         Điểm bảo vệ thực tập, đồ án môn học, đồ án/ khóa luận tốt nghiệp.
-         Điểm từ các cơ sở thực tập (doanh nghiệp).
Trọng số của điểm thi cuối  học phần chiếm tối thiểu 50%, tối đa 70% điểm đánh giá học phần.
ii.             Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
Loại
Thang điểm
chính thức hệ 10
Thang điểm hệ 4
Điểm số
Điểm chữ
Đạt
Từ 8,5 đến 10,0
4,0
A
Từ 8,1 đến 8,4
3,5
B+
Từ 7,0 đến cận 8,0
3,0
B
Từ 6,1 đến 6,9
2,5
C+
Từ 5,5 đến cận 6,0
2,0
C
Từ 5,1 đến 5,4
1,5
D+
Từ 4,0 đến cận 5,0
1,0
D
Không đạt
< 4,0
0,0
F
 
iii.  Việc xếp loại các mức điểm A, B+, B, C+, C, D+, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
           a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;
           b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;
          c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.
iv. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.
v.      Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:
            a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được trưởng khoa cho phép;
       b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng khoa chấp thuận. Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.
vi. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà phòng đào tạo của trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.
vii. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:
          a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.
          b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.
            viii.  Cách tính điểm trung bình chung
-         Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:
A         tương ứng với            4
B+        tương ứng với            3,5
B         tương ứng với            3
C+        tương ứng với            2,5
C         tương ứng với            2
D+        tương ứng với            1,5
D         tương ứng với            1
F          tương ứng với            0
-         Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân: 
 
                                               
            Trong đó:
 
A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy
 
            ai  là điểm của học phần thứ i
 
            ni  là số tín chỉ của học phần thứ i
 
            n  là tổng số học phần.
            Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.
 
CHƯƠNG III
 
XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP
Điều 13. Thực tập cuối khóa, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc thi một số học phần chuyên môn 
1. Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:
a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: tùy theo điều kiện cán bộ giảng viên cơ hữu từng khoa (Cán bộ giảng viên trình độ Thạc sĩ trở lên, đúng chuyên ngành và mỗi cán bộ giảng viên cơ hữu hướng dẫn không quá 4 sinh viên trong học kỳ), sẽ xét danh sách sinh viên được làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp theo kết quả học tập, trường hợp nhiều sinh viên có cùng kết quả học tập sẽ xét thêm kết quả rèn luyện. Đồ án, Khóa luận tốt nghiệp có khối lượng 7 tín chỉ cho trình độ Đại học và 5 tín chỉ cho trình độ Cao đẳng
b) Học và thi một số học phần chuyên môn: sinh viên không được giao làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình.
2. Tùy theo điều kiện của trường và đặc thù của từng ngành đào tạo, Hiệu trưởng quy định:
a) Các điều kiện để sinh viên được đăng ký làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp theo khoản 1 điều này
b) Thời gian thực hiện khoá luận là một học kỳ cuối cùng của khoá học. Nếu đề tài cần phải làm thí nghiệm kéo dài thì cán bộ hướng dẫn có thể giao đề tài sớm hơn;
c) Chấm thi cuối khóa, chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp được thực hiên bởi Hội đồng do Khoa trưởng đề xuất, Hiệu trưởng ra quyết định. Số thành viên của mỗi hội đồng là ba hoặc năm trong đó có chủ tịch và thư ký. Các thành viên có thể là giảng viên của trường hoặc mời cán bộ khoa học có chuyên môn và trình độ phù hợp bên ngoài;
d) Nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn; trách nhiệm của bộ môn và khoa đối với sinh viên trong thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp do Khoa trưởng các khoa đề xuất, Hiệu trưởng ra Quyết định
e) Sinh viên đạt đầy đủ các điều kiện về Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục Quốc phòng, Giáo dục Thể chất, các kỹ năng mềm theo quy định, không có học phần còn nợ, hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp chính trị cuối khóa.
3. Đối với một số ngành đào tạo đòi hỏi phải dành nhiều thời gian cho thí nghiệm hoặc khảo sát để sinh viên hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, trường có thể bố trí thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khoá.
 
Điều 14. Đánh giá đồ án, khoá luận tốt nghiệp
1. Việc đánh giá mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do ít nhất 2 giảng viên đảm nhiệm, dưới hình thức chấm điểm theo phiếu chấm được thiết kế sẵn.
2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm  theo quy định tại Điều 12 của Quy chế này. Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.
3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm không đạt, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ tích lũy của chương trình học đạt theo quy định.
Điều 15. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp
1. Sinh viên được trường xét và công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:
a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;
b) Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo.
c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học được xếp loại từ trung bình  trở lên;
d) Thỏa mãn một số yêu cầu về Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục Quốc phòng, Giáo dục Thể chất, các kỹ năng mềm theo quy định, không có học phần không đạt,  hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp chính trị cuối khóa (đối với khóa từ 2012 trở về trước).;
 
e) Có đơn gửi Phòng đào tạo đề nghị được xét tốt nghiệp.        
2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.
            Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, trưởng phòng đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các trưởng khoa chuyên môn, trưởng phòng công tác sinh viên.
            3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.
 
Điều 16. Thực tập cuối khoá và điều kiện xét tốt nghiệp của một số ngành đào tạo đặc thù
Đối với một số ngành đào tạo đặc thù thuộc các lĩnh vực Nghệ thuật, Kiến trúc, y tế, Thể dục - Thể thao, Hiệu trưởng quy định nội dung, hình thức thực tập cuối khoá; hình thức chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp; điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp phù hợp với đặc điểm các chương trình của trường
 
            Điều 17. Xếp loại tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập
 
1.      Đối với sinh viên học theo học chế niên chế
Xếp loại tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:
a) Loại đạt:                 Từ 9 đến 10:                   Xuất sắc
Từ 8 đến cận 9:     Giỏi
Từ 7 đến cận 8:     Khá
Từ 6 đến cận 7:     Trung bình khá
Từ 5 đến cận 6:     Trung bình
b) Loại không đạt:      Từ 4 đến cận 5:     Yếu
Dưới 4:                 Kém
Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức nếu vi phạm vào một trong các trường hợp sau:
-  Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số đơn vị học trình quy định cho toàn khoá học;
-  Đã bị kỷ luật trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên.
 
2.      Đối với sinh viên học theo học chế tín chỉ
Xếp loại tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:
      a) Loại xuất sắc:       Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;
      b) Loại giỏi:              Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;
c) Loại khá:               Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;
d) Loại trung bình:  Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.
Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
-  Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;
-  Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.
3. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.
 
 
Điều 18. Văn bằng tốt nghiệp và bảng điểm
1. Người học liên thông sau khi kết thúc chương trình đào tạo, nếu đủ điều kiện theo quy định thì được công nhận tốt nghiệp và được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học phù hợp với trình độ đào tạo. Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học
2. Người học liên thông theo hình thức chính quy được cấp bằng tốt nghiệp chính quy; Người học liên thông hình thức vừa làm vừa học được cấp bằng tốt nghiệp vừa làm vừa học.
3. Bảng điểm của người học liên thông được ghi đầy đủ kết quả học tập trong thời gian đào tạo liên thông và các môn học, học phần cùng số tín chỉ hay đơn vị học trình của trình độ trước đã được thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học công nhận.
 
 
 
 
 
Chương IV
 
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
            Điều 19. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra   
            1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.
            2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.
 
           3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện hành.  
 
 
        HIỆU TRƯỞNG
 
    
 
 
                                                                                                    GS.VS. Cao Văn Phường (đã ký)

Liên hệ tư vấn